Lão khoa

BỆNH MẮT Ở NGƯỜI CAO TUỔI

BỆNH MẮT Ở NGƯỜI CAO TUỔI

BỆNH MẮT Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Ảnh hường của tuổi già đến mắt và thị lực

Hệ thống động mạch mao mạch ảnh hưởng nhiều đến thị giác. Tuổi càng cao, bệnh ảnh hưởng đến thị giác càng nhiều, chủ yếu là do các tổn thương ở mạch: trong glaucom thỉ lệ là 74,1%, trong đục thủy tinh thể tỉ lệ là 75,8%, trong thoái hóa hoàng điểm tỉ lệ là 55,6%.

Tỉ lệ mắc bệnh động mạch võng mạc là 66,6% ở lứa tuổi 40 - 60; tăng lên 78%, ở lứa tuổi 60 - 70; 72,1% ở lứa tuổi 70 - 80.

Trên 50% bệnh nhân đục thủy tinh thể có những biểu hiện vữa xơ động mạch, tỉ lệ đó là 46% ở bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm. Bệnh cao huyết áp rất hay gặp ở tuổi già có ảnh hưởng nhiều đến mắt. Theo Vilen­kina, ở giai đoạn I của bệnh cao huyết áp thì 25 đến 30% đáy mắt còn bình thường, ở giai đoạn II, tỉ lệ đó chỉ còn 3,5%, ở giai đoạn III không có đáy mắt nào được bình thường nữa.

người già, mắt có những biến đổi sinh lí gọi là lão thị, do hiện tượng xơ hóa thủy tinh thể làm giảm sức đàn hồi của thủy tinh thể và giảm khả năng điều tiết.

Khả năng điều tiết máu biến đổi rõ rệt theo tuổi. Theo Bolototski, khả năng điều tiết trung bình là 14,6 điốp lúc 10 tuổi. Khả năng đó còn 10,6 điốp lúc 20 tuổi; 7,7 điốp lúc 30 tuổi; 4,9 điốp lúc 40 tuổi; 4,4 điốp lúc 42 tuổi; 3,5 điốp lúc 45 tuổi; 2,1 điốp lúc 50 tuổi và 1 điốp lúc 60 tuổi. Khi khả năng điều tiết yếu, người ta phải để sách rất xa để đọc, trung bình từ 33cm đến 45cm (bình thường khoảng 22cm).

Thề hiện của lão thị là xu hướng đọc để sách ra xa dần ròi đến mức nào đó chữ không rõ nữa, đọc chữ nhỏ không được, không có kính lão sẽ mệt mỏi nhức đầu, mỏi mắt, chảy nước mắt, kích thích mi... khi nhìn gần, còn nhìn xa thì vẫn tốt.

Thường khắc phục lão thị bằng đeo kính. Nhìn chung, ỏ’ lứa tuổi 40 Cần kính lão khoảng +1,0 điốp; ở lứa tuổi 50: từ +1,75 đến 2,0 điốp; ở lứa tuổi 55: +2,05 đến +2,5 điốp; ỏ’ lứa tuổi 60: +2,5 đến 2,75 điốp; trên 60 tuổi: +2,5 đến 3,0 điốp.

Bệnh mắt thường gặp ở người già

Đục thủy tinh thể

  1. Đục thủy tinh thể rất hay gặp ở người già. Theo luckiesh, lúc 40 tuổi, thị lực giảm 10% so với tuồi 20; lúc 69 tuổi thị lực giảm 26% và vào lúc 80 tuổi thị lực giảm 53% so với tuổi 20.

Đục thủy tinh thể thường xuất hiện rõ ở tuổi 55 - 75. ỏ’ nam giới từ 60 đến 70 tuổi và nữ giới từ 56 - 75 tuổi. Các trường hợp sau 80 tuổi mới xuất hiện đục thủy tinh thể rất hiếm.

  1. Lúc đầu có hiện tượng xơ hóa nhãn thủy tinh thể, trong đó xuất hiện các sợi ngày càng nhiều và tập trung dần ở giữa. Trung tâm nhiễm sắc tố trỏ’ nên mò’ nhạt rồi sang nâu. Lúc đầu biểu hiện như cận thị do biến đổi chỉ số khúc xạ, khi tổ chức xơ không đều, có thể có nhìn đôi.
  2. Đục nhân mắt gần như bao giờ cũng có sau 70 tuổi nhưng hình thái và tiến triển rất khác nhau. Có thể gặp trong cùng một gia đình ở tuổi dưới 50, tiến triển trong các trường hợp này thường nhanh, ở nhũ’ng người rất già, trái lại tiến triển rất chậm. Các rối loạn thị giác phụ thuộc vào diện đục và vị trí tổn thương. Mờ đục ỏ’ bao sau thủy tinh thề trên đường đi của tia sáng giữa màng chắn đồng tử và võng mạc là nặng nhất. Trái lại, mờ đục vùng vỏ, ngoại vi, dù rộng cũng không giảm thị lực một cách đáng kể vì bị mống mắt che.
  3. Đục thủy tinh thể tiến triển dần sang cả hai bên, nhưng thường không đều nhau. Hiện nay, không có khả năng điều trị nội khoa. Điều trị ngoại khoa khi có chỉ định là lấy đi thủy tinh thể bị đục. Có phương pháp lấy ngoại vi và trong vỏ. Lấy xong phải có kính có điốp khoảng 10-11 tăng bù vào thủy tinh thể. Lúc này đã mất khả năng điều tiết nên phải có hai kính, một để nhìn xa và một đề đọc sách. Trước đây thường dùng kính đeo. Gần đây ngưò’i ta dùng kính tiếp xúc và thủy tinh thể nhân tạo.

    bệnh mắt ở người cao tuổi

     

Glaucom

  1. Là một bệnh mắt thề hiện thông thường bằng cao nhãn áp giảm thị giác và lõm gai thị. Có hai thể chính: glaucom nguyên phát (chiếm 2% dân số) là glaucom kinh diễn đơn thuần và glaucom sung huyết cấp tính.
  2. Glaucom kinh diễn đơn thuần. Trong thời gian rất lâu, chỉ có dấu hiệu duy nhất là tăng áp lực nhãn cầu, phát hiện tình cờ khi đo nhãn áp nhất loạt ở người 45 - 50 tuổi. Nhãn áp bình thường khoảng 25mmHg sẽ tăng lên đến 30 - 35 mmHg, hoặc hơn nữa. Không điều trị có thể dẫn đến teo dần thị giác, lõm gai thị, làm hẹp không hồi phục nhãn trường và tổn thương thị giác trung tâm. Nếu được điều trị kịp thời, có thể trì hoãn được tiến triển của bệnh. Thường dùng thuốc uống Fonurit (acetazolamid) và thuốc rỏ mắt pilocacpin liên tục. Phẫu thuật chỉ cần khi nào nhãn áp không điều chỉnh được bằng nội khoa.
  3. Glaucom cấp tính (cương tụ, sung huyết), còn gọi là glaucom có góc đóng trái (trái với glaucom kinh diễn đơn thuần cố góc mống mắt giác mạc mờ). Bệnh nhân nhức đầu nhiều, đau quanh hốc mắt dữ dội, khó chịu, nôn, phù giác mạc lan tỏa, giãn đồng tử xóa mờ tiền phòng của mắt. cần phân biệt với viêm mống mắt, thề mi, viêm kết mạc hoặc viêm củng mạc. Nhãn áp tăng có thể đến 40 - 45 mmHg. Được phát hiện kịp thòi, có thể điều trị cơn bằng thuốc Diamox, Fonurit thuốc làm thu hẹp đồng tử; sau đó, có thề phẫu thuật cắt lỗ mống mắt.

Glaucom thứ phát ở người già thường xảy ra sau khi bị huyết khối tĩnh mạch trung tâm võng mạc do đái tháo đường (glaucom xuất huyết) hoặc do giả tróc mảnh thủy tinh thể.

Phẫu thuật glaucom sau 65-70 tuổi, tuy có điều hòa được nhãn áp nhưng thường gây đục nhân mắt. Do đó, nếu điều trị nội khoa có đem lại phần nào kết quả thì không nên mổ, hoặc nếu có mổ thì chọn một phương pháp tuy không triệt để nhưng ít biến chứng hơn (đông thấu nhiệt thể mi).

Bệnh glaucom cần được phát hiện sớm thì kết quả điều trị và dự phòng mới tốt được. Phát hiện muộn, chữa không tích cực, thường dẫn đến hỏng mắt. Cho nên, ngay từ lứa tuổi 30 - 40 đã cần có chế độ kiểm tra nhãn áp và đáy mắt thường kì để phát hiện bệnh sớm. Người bị glaucom cần được quản lí theo chế độ đixpăngxe và được hướng dẫn cách tránh biến chứng.

bệnh mắt ở người cao tuổi

Bệnh của võng mạc và thanh mạc

Có thể có hai cơ chế gây tổn thương võng mạc ở tuổi già: tổn thương do mạch máu và tổn thương đơn thuần do thoái hóa.

  1. Xơ cứng tuần tiến các mạch võng mạc. Biểu hiện bằng giảm từ từ và toàn bộ chức năng võng mạc. Soi đáy mắt thấy trạng thái thiếu máu cục bộ và hẹp lòng các mạch máu. Đôi khi, tùy theo mức độ bệnh của mạch máu có thể có huyết khối động mạch với tiên lượng xấu vì võng mạc thiếu máu hoàn toàn, có thể trong không đầy một giờ gây những thương tổn không thể phục hồi được. Huyết khối tĩnh mạch tuy không nguy hiểm bằng, nhưng cũng làm giảm nhiều thị giác.

Xuất huyết mạch có thể dẫn đến rối loạn chức năng nặng, nếu vị trí ở cực sau vì các IÓ’P ngoài của võng mạc do mao mạch mạc nuôi. Tất cả các loại xuất huyết đó qua võng mạc và tràn vào thủy tinh thề.

Điều trị các tổn thương trên thường ít kết quả vì tổ chức võng mạc rất dễ hỏng.

  1. Tổn thương thoái hóa. Thường gặp chủ yếu ở cực sau, nhất là điềm vàng và chu vi. Lúc đầu tổn thương ỏ’ vùng giới hạn giữa võng mạc và mạch mạc và không gây rối loạn chức năng gì đáng kể. Sau này khi đã có tổn thương thần kinh thì thị giác bị rối loạn. Thường gặp các chấm ở màng kính dưới dạng vết trắng nhạt, kích thước nhỏ. Vị trí thường gặp là cực sau cũng như vùng ngoại vi. Một hình thái thoái hóa điểm vàng nặng hơn ở tuổi già là thể xuất huyết, xuất huyết dẫn đến hình thành các u giả do tổ chức xơ. ỏ’ giai đoạn này, có một ám điểm rộng vùng trung tâm, các vùng thoái hóa có thể là khởi điểm của bong võng mạc tuổi già.

Triệu chứng chủ quan là khó đọc, dòng chữ mất liên tục ròi xuất hiện ám điểm, vật nhìn ỏ’ trung tâm bị biến dạng.

Điều trị ít kết quả, thường chĩ còn dùng được vitamin pp, rutin kết hợp với vitamin E và B, kích thích tố kiểu Filatov.

Bệnh mắt khác

bệnh mắt ở người cao tuổi

Mí mắt. Các biến đổi tổ chức chun ở da dẫn đến hai biến chứng trái ngược nhau:

  • Bờ mi dưới lộn vào trong, làm cho lông mi cọ xát với giác mạc, gây kích thích thường xuyên, gọi là “lông quặm co cứng hay lông quặm lão suy”.
  • Teo da ỏ’ mi dưới bẻ bờ mi ra ngoài làm thành “lộn mi”; kết mạc mi mắt phải tiếp xúc với các kích thích liên tiếp, điểm lệ dưới bị lộn ra ngoài. Hậu quả là táng chảy nước mắt càng nhiều, có khi kèm theo viêm kết mạc sụn mi mạn tính.

Hố mắt. Hay gặp teo mỡ hố mắt dẫn đến lõm mắt, kèm theo sụp mi mắt.

Kết mạc. Teo tuần tiến tuyến lệ, sụn mi và kết mạc làm giảm tiết dẫn đến cảm giác bỏng, ngứa mắt rất thường gặp ở người già.

Khô nhãn cầu kèm theo viêm giác mạc sợi là triệu chứng chủ yếu của hội chứng Sjogren; có khi chỉ có khô nhãn cầu đơn độc, không kèm theo viêm giác mạc ở người già. Trong những trường hợp này tránh cho các kháng sinh hoặc các thuốc làm se niêm mạc (như kèm sunfat, cocticoit) mà chỉ nên nhỏ nước mắt nhân tạo. Chảy nước mắt là triệu chứng rất phổ biến ở người già, đôi khi không phải do tắc lệ đạo và CO’ chế cũng khó giải thích đầy đủ hiện nay.

Giác mạc. Những biểu hiện rất phổ biến ở giác mạc người già thường không phản ánh đến thị giác vì khu trú ở ngoài. Cung dạng mỡ (arc lipoidique) còn gọi sai là cung lão suy (vì có thể gặp ở người trẻ) không có liên quan rõ rệt với tăng cholesterol máu.

Một biến đổi tăng rõ rệt với tuổi là hiện tượng Weisser limbusgurtel của Vogt do lắng đọng canxi vòng kết mạc, gây kícn thích khó chịu.

Trong các rối loạn dinh dưỡng do lão suy làm giảm thị lực, cần nêu lên một số tổn thương thoái hóa, không đặc hiệu, do ứ mõ’, gây nên các vệt như mây, các biến đổi ở màng Descemet và ở nội mô (cornea guttata) kèm theo phù nề lan tỏa ở chất đệm và ở biểu mô (loạn dưõ’ng Fuchs).

Củng mạc. ở người già hay gặp các vệt màu xám nhạt khu trú gần nơi bám của các cơ nhãn cầu, không do viêm và không liên quan gì đến bệnh tạo keo. Trái lại, trong bệnh viêm đa khó’p dạng thấp, teo củng mạc do viêm củng mạc hoại tử hoặc nhũn củng mạc có thể dẫn đến giãn phình lớn.

Mống mắt - Đồng tử. Mống mắt lão suy, khác mống mắt người trẻ: chất đệm teo, mềm, đường nét các hốc viền mờ đi; sắc tố lan tỏa, bề mặt mông mắt có nhiều hạt màu nâu nhạt, viền đồng tử không đều và mất màu. Trên mống mắt có rất nhiều hạt nhỏ màu xám nhạt, khi giãn đồng tử cũng gặp những hình ảnh tương tự ở mặt trước cửa bao thủy tinh thể.

Trên người già, đồng tử thường co lại và các phản xạ đồng tử thường giảm do hậu quả của các tổn thương của chất đệm và xơ mạch máu. Các mạch máu không theo được một cách mềm mại những biến đổi thường xuyên của mống mắt với ánh sáng.

Thể thủy tinh. Những biến đổi gel thủy tinh theo tuổi làm cho bệnh nhân như nhìn thấy ruồi bay, các sợi dây, các vòng tròn. Đó là do dải trùng hợp axit hyaluronic là thành phần quan trọng của thủy tinh, mất chỗ bám bình thưởng của thể kính vào gai thị hay võng mạc ngoại vi làm cho thể thủy tinh xẹp xuống. Đó là hiện tượng “bong phía sau của thủy tinh”, là một rối loạn nhẹ không đáng ngại.

Một biến đổi thủy tinh phát hiện được tình cờ đi khám là hiện tượng truyền nhuyễn thề kính lấp lánh, do kết tủa của các xà phòng canxi. Soi đáy mắt thấy có rất nhiều hạt nhỏ chiết quang.

Dây thần kinh thị giác. Hai nguyên nhân gây teo dây thần kinh thị giác ở người già, là xơ cứng động mạch và viêm động mạch thái dương.

Xơ cứng động mạch có thể gây teo dây thần kinh từ từ và tuần tiến do thiếu máu cục bộ hoặc giả viêm gai mắt do tổn thương nặng mạch máu ở đầu dây thần kinh thị giác (vòng Zinn-Haller). Bệnh cảnh là một tình trạng phù cấp tính của dây thần kinh thị giác gây rối loạn chức năng trầm trọng, thường là không hồi phục được. Điều trị như huyết khối võng mạc.

Viêm động mạch thái dương, tế bào khổng lồ (bệnh Horton) bắt đầu bằng các triệu chứng cấp tính ở mắt: phù nề dây thần kinh, huyết khối động mạch, đôi khi viêm dây thần kinh sau hành tủy. Nếu chẩn đoán được kịp thời, điều trị bằng cocticoit có thể đem lại phần nào kết quả.

Tham khảo thêm các bài viết khác: BỆNH TAI MŨI HỌNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Đang xem: BỆNH MẮT Ở NGƯỜI CAO TUỔI

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng